Tăng cường công tác phòng, chống bệnh Tay chân miệng và sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh
Tăng cường công tác phòng, chống bệnh Tay chân miệng và sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh
Tính đến ngày 10/8/2026, tình hình dịch bệnh Tay chân miệng (TCM) và Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng vẫn diễn biến phức tạp với số mắc tăng nhanh, phân bố rộng và đặc biệt là tại các địa phương có ghi nhận nhiều ca bệnh, ca bệnh nặng, tử vong. Cụ thể:
- Bệnh Tay chân miệng: Toàn tỉnh ghi nhận 3.512 ca mắc TCM và 02 trường hợp tử vong tại thôn Toa Cát, thôn Tà Sơn, Xã Tà Năng, khu vực Đức Trọng (cũ). Bệnh phân bố tại 121/124 xã, phường, đặc khu, số mắc cao tại các khu vực gồm: khu vực Phan Thiết (cũ): 758 ca, khu vực Đà Lạt (cũ): 381 ca, khu vực Hàm Thuận Bắc (cũ): 288 ca, khu vực Hàm Thuận Nam (cũ): 251 ca và khu vực Đức Trọng (cũ): 244 ca.
- Bệnh sốt xuất huyết Dengue: Toàn tỉnh ghi nhận 3.150 ca mắc SXHD, tỷ lệ 81,3/100.000 dân, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2025; ghi nhận 01 trường hợp tử vong (thôn 5, xã Quảng Tín) và 79 ca nặng, chiếm 2,5%. Ca bệnh xuất hiện tại 122/124 xã, phường, đặc khu. Các khu vực có số ca mắc cao gồm: Đức Linh (cũ), Gia Nghĩa (cũ), Tánh Linh (cũ), Đắk R'lấp (cũ), Hàm Thuận Nam (cũ), Tuy Đức (cũ) và đặc khu Phú Quý, là nhóm địa bàn quyết định đến xu hướng dịch trong thời gian tới trên địa bàn toàn tỉnh.
Để chủ động kiểm soát tình hình, hạn chế số mắc, ca bệnh nặng và tử vong; không để dịch bệnh lan rộng, kéo dài, đặc biệt trong thời gian chuẩn bị bước vào năm học mới, Sở Y tế đề nghị các đơn vị, địa phương khẩn trương triển khai các giải pháp trọng tâm sau:
Giải pháp tăng cường phòng, chống bệnh tay chân miệng
Tăng cường giám sát, phát hiện sớm: Theo dõi số mắc hằng ngày, phân tích theo tuần, địa bàn dân cư, trường học, nhóm trẻ, độ tuổi và phân độ bệnh; chú ý các cụm ca bệnh có liên quan về thời gian và không gian. Rà soát các trường hợp mắc từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và trên hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm; bảo đảm cập nhật đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi khởi phát, nơi trẻ đi học, người chăm sóc và các yếu tố dịch tễ liên quan. Khi phát hiện ca bệnh phải điều tra yếu tố dịch tễ, xác định các trường hợp tiếp xúc, các trường hợp mắc tương tự trong gia đình, lớp học, trường học và khu dân cư. Tăng cường giám sát tại nhà trẻ, trường mầm non, nhóm trẻ gia đình và các địa điểm tập trung nhiều trẻ dưới 5 tuổi.
Xử lý kịp thời, triệt để ổ dịch: Khi phát hiện ổ dịch, khẩn trương điều tra, xác minh và triển khai biện pháp xử lý trong vòng 48 giờ. Lập danh sách các trường hợp mắc, trường hợp tiếp xúc có nguy cơ; xác định địa điểm, thời gian khởi phát và phạm vi có nguy cơ. Tại hộ gia đình: hướng dẫn cách ly trẻ bệnh, vệ sinh tay bằng xà phòng, vệ sinh dụng cụ ăn uống, đồ chơi và các bề mặt thường xuyên tiếp xúc.
Tại trường học, nhóm trẻ: theo dõi sức khỏe trẻ hằng ngày; tăng cường vệ sinh tay, đồ chơi, bàn ghế, tay nắm cửa, sàn nhà và các bề mặt thường xuyên tiếp xúc; phát hiện và thông báo ngay trường hợp nghi mắc cho gia đình và cơ sở y tế. Tiếp tục theo dõi sau xử lý, không đánh giá kết quả xử lý ổ dịch chỉ dựa vào việc số ca giảm trong một vài ngày đầu.
Tăng cường thực hiện “3 sạch”: Tất cả hộ gia đình có trẻ nhỏ, trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ gia đình thực hiện nghiêm các biện pháp: ăn, uống sạch; ở sạch; bàn tay sạch và chơi đồ chơi sạch; thường xuyên vệ sinh, khử khuẩn đồ chơi, dụng cụ học tập và các bề mặt trẻ thường xuyên tiếp xúc; không dùng chung khăn, cốc, chén, thìa và các vật dụng cá nhân.
Quản lý trẻ mắc bệnh và phòng ngừa tử vong: Hướng dẫn cha mẹ, người chăm sóc trẻ nhận biết các dấu hiệu chuyển nặng và đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời; không tự điều trị kéo dài tại nhà khi trẻ có dấu hiệu bất thường. Rà soát các trường hợp bệnh nặng, trường hợp chuyển tuyến và trường hợp tử vong; đánh giá việc phát hiện dấu hiệu cảnh báo, tư vấn gia đình, chuyển tuyến và phối hợp giữa các tuyến để kịp thời khắc phục những hạn chế.
Đặc biệt tăng cường hỗ trợ chuyên môn tại xã Tà Năng và các địa bàn lân cận, nơi đã ghi nhận trường hợp tử vong.
Tăng cường truyền thông: Tổ chức truyền thông trực tiếp, ngắn gọn, dễ thực hiện cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi, giáo viên mầm non và người giữ trẻ; tập trung vào vệ sinh tay, vệ sinh môi trường, vệ sinh đồ chơi, không cho trẻ bệnh tiếp xúc với trẻ khác và nhận biết dấu hiệu chuyển nặng.
Chủ động chuẩn bị trước năm học mới: Rà soát nguy cơ tại các trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ gia đình; thống nhất đầu mối liên hệ giữa cơ sở giáo dục, Trạm Y tế và chính quyền địa phương; bảo đảm quy trình thông báo ca bệnh, điều tra, xử lý ổ dịch và theo dõi sau xử lý được thực hiện thống nhất.
Giải pháp tăng cường phòng, chống sốt xuất huyết
Kiểm soát véc tơ, xử lý ổ dịch: Tại các điểm nóng, điều tra 100% ca bệnh mới trong vòng 24 giờ; lập bản đồ ca bệnh theo thôn, tổ dân phố và ngày khởi phát. Xử lý ổ dịch đang hoạt động trong vòng 48 giờ kể từ khi xác định. Tổ chức tối thiểu 02 vòng diệt lăng quăng/bọ gậy, cách nhau 07 ngày; phấn đấu tiếp cận ít nhất 95% hộ mục tiêu. Kiểm tra 100% trường học, nhà trọ, công trình xây dựng, cơ sở tôn giáo, điểm thu gom phế liệu và các điểm nguy cơ trong vùng có dịch. Phun hóa chất đúng chỉ định, đúng phạm vi, đúng kỹ thuật theo hướng dẫn chuyên môn. Đo chỉ số BI/DI trước can thiệp, ngày thứ 7 và ngày thứ 14; đồng thời đánh giá số ca mới, số ổ dịch còn hoạt động và độ bao phủ hộ gia đình để quyết định can thiệp bổ sung.
Tập trung nguồn lực tại các khu vực trọng điểm: Các địa phương: Đức Linh (cũ), Gia Nghĩa (cũ), Tánh Linh (cũ), Đắk R'lấp (cũ), Hàm Thuận Nam (cũ), Tuy Đức (cũ) và đặc khu Phú Quý khẩn trương xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch đáp ứng phù hợp với tình hình thực tế; tập trung trong thời gian 14-28 ngày và đánh giá kết quả sau can thiệp. Trong đó: Khu vực Đức Linh (cũ): tập trung tại các xã: Đức Linh, Hoài Đức, Trà Tân và Nam Thành; ưu tiên kiểm soát véc-tơ và giảm nguy cơ ca nặng, tử vong. Khu vực Gia Nghĩa (cũ): tập trung các phường Nam Gia Nghĩa, Bắc Gia Nghĩa và Đông Gia Nghĩa; xác định các cụm lây truyền trong 14 ngày gần nhất để tổ chức can thiệp. Khu vực Tánh Linh (cũ): tập trung tại các xạ: Tánh Linh, Suối Kiết, Bắc Ruộng và Đồng Kho; không để dịch gia tăng trở lại. Khu vực Đắk R'lấp (cũ): tập trung xác minh, khống chế nhanh các cụm gia tăng tại xã Quảng Tín và xã Kiến Đức. Khu vực Hàm Thuận Nam (cũ): tập trung tại các xạ Hàm Kiệm và xạ Hàm Thuận Nam; chú trọng các khu nhà trọ, công trình, khu lao động và vùng giáp ranh. Khu vực Tuy Đức (cũ): duy trì can thiệp tại xã Quảng Tân và các địa bàn phân tán, vùng xa; bảo đảm đội cơ động, máy phun, hóa chất và phương tiện phù hợp. Đặc khu Phú Quý: kiểm soát véc-tơ trên toàn đặc khu; kiểm tra hộ gia đình, cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch, bể/chum và dụng cụ chứa nước; đồng thời chuẩn bị phương án xử trí, hội chẩn và chuyển tuyến phù hợp với điều kiện địa lý.
Tăng cường phát hiện, quản lý và điều trị ca bệnh: Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và tư nhân thực hiện nghiêm việc sàng lọc, phân loại, theo dõi người bệnh, đặc biệt trong giai đoạn nguy hiểm và thực hiện chuyển tuyến theo hướng dẫn chuyên môn. Lập danh sách ca cảnh báo, ca nặng, ca chuyển tuyến và tử vong; cập nhật hằng ngày. Bảo đảm 100% ca nặng được hội chẩn hoặc rà soát chuyên môn trong vòng 24 giờ kể từ khi tiếp nhận thông tin. Trong vòng 48 giờ, các cơ sở điều trị rà soát giường bệnh, dịch truyền, thuốc, máu và chế phẩm máu, phương tiện hồi sức, đầu mối hội chẩn và phương án chuyển viện; kịp thời báo cáo khi có nguy cơ thiếu hoặc quá tải.
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan theo dõi, phân tích và đánh giá tình hình TCM, SXHD trên toàn tỉnh; kịp thời tham mưu Sở Y tế chỉ đạo các biện pháp đáp ứng phù hợp với diễn biến dịch.
Tăng cường giám sát, hỗ trợ chuyên môn cho các địa phương có số mắc cao, nhiều ổ dịch, ca nặng, tử vong hoặc có xu hướng gia tăng nhanh; ưu tiên xã Tà Năng đối với TCM và 07 khu vực trọng điểm đối với SXHD.
Chủ trì tổ chức các đoàn giám sát, hỗ trợ kỹ thuật; tập trung đánh giá thực chất công tác điều tra ca bệnh, xử lý ổ dịch, giám sát sau xử lý, kiểm soát véc-tơ, quản lý ca bệnh nặng và công tác chuyển tuyến.
Hướng dẫn chuyên môn cho Trung tâm Y tế khu vực, Trạm Y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Theo dõi, tổng hợp số liệu TCM và SXHD; bảo đảm số liệu được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời; phân tích xu hướng theo địa bàn, thời gian, độ tuổi, trường học và mức độ bệnh.
Chủ trì tổng hợp báo cáo Sở Y tế khi có diễn biến bất thường, ca tử vong, ổ dịch lớn hoặc nguy cơ vượt khả năng đáp ứng của địa phương.
Trung tâm Y tế khu vực, đặc khu
Tiếp tục thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh trên địa bàn như trước khi sáp nhập; chịu trách nhiệm toàn diện về công tác phòng chống dịch trên địa bàn, hướng dẫn, hỗ trợ các trạm y tế trong công tác phòng chống dịch tại địa phương, đảm bảo thuốc, hóa chất, vật tự y tế trong công tác phòng chống dịch bệnh theo phương châm “4 tại chỗ”. Địa phương nào để dịch bùng phát, giám đốc TTYT các khu vực, đặc khu chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc Sở Y tế.
Phân công cán bộ phụ trách từng địa bàn; chủ động theo dõi diễn biến ca bệnh, ca nặng, tử vong và ổ dịch.
Phối hợp, hướng dẫn, hỗ trợ các Trạm Y tế điều tra ca bệnh, xác minh ổ dịch, đánh giá nguy cơ và tham mưu chính quyền địa phương triển khai các biện pháp xử lý.
Đối với SXHD, tổ chức điều tra 100% ca mới tại địa bàn ưu tiên; cập nhật bản đồ ca bệnh theo thôn, tổ dân phố; giám sát trước, trong và sau can thiệp.
Đối với TCM, tăng cường giám sát cộng đồng, trường học, nhóm trẻ; rà soát các cụm ca và đánh giá nguy cơ hình thành, tái phát ổ dịch.
Rà soát nhân lực, vật tư, hóa chất, máy phun, phương tiện và năng lực điều trị, chuyển tuyến; kịp thời đề xuất CDC hỗ trợ khi vượt khả năng đáp ứng.
Trạm Y tế xã, phường, đặc khu
Chủ động tham mưu UBND cấp xã chỉ đạo, huy động các ban, ngành, đoàn thể, tổ dân phố, thôn, trường học và cộng đồng tham gia phòng, chống dịch. Báo cáo, đề xuất TTYT khu vực, đặc khu hỗ trợ công tác phòng chống dịch trên địa bàn.
Theo dõi, phát hiện, điều tra và báo cáo đầy đủ ca bệnh; không để bỏ sót ca bệnh hoặc chậm xác minh cụm ca.
Đối với TCM: lập danh sách trẻ mắc bệnh, theo dõi ca mới; tăng cường giám sát trẻ dưới 5 tuổi, trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ gia đình; hướng dẫn hộ gia đình thực hiện “3 sạch”, quản lý trẻ bệnh và nhận biết dấu hiệu chuyển nặng.
Đối với SXHD: tham mưu tổ chức chiến dịch diệt lăng quăng/bọ gậy; phân công cụ thể địa bàn, hộ gia đình, lực lượng và thời gian thực hiện; giám sát ca sốt tại cộng đồng; phối hợp với trường học, phòng khám tư nhân, nhà thuốc để phát hiện sớm trường hợp nghi mắc.
Kiểm tra thực chất kết quả xử lý, không chỉ ghi nhận việc đã triển khai; rà soát các hộ vắng, hộ không hợp tác, các điểm nguy cơ và tổ chức tiếp cận, xử lý bổ sung.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Thực hiện nghiêm việc tiếp nhận, sàng lọc, phân loại, chẩn đoán, điều trị, theo dõi và chuyển tuyến người bệnh TCM và SXHD theo hướng dẫn chuyên môn.
Tăng cường phát hiện sớm dấu hiệu chuyển nặng, đặc biệt đối với trẻ mắc TCM và người bệnh SXHD trong giai đoạn nguy hiểm.
Đối với SXHD, lập danh sách ca cảnh báo, ca nặng, ca chuyển tuyến, tử vong; thực hiện hội chẩn hoặc rà soát chuyên môn kịp thời; báo cáo ngay ca nặng, tử vong hoặc chùm ca bất thường.
Rà soát năng lực điều trị, giường bệnh, thuốc, dịch truyền, máu và chế phẩm máu, vật tư, phương tiện hồi sức; chủ động phương án chuyển tuyến khi vượt khả năng điều trị.
Cập nhật đầy đủ thông tin ca bệnh, phân độ, thời điểm nhập viện, chuyển tuyến, kết quả điều trị và xét nghiệm; phối hợp với CDC và Trung tâm Y tế khu vực trong rà soát, phân tích ca bệnh nặng và tử vong.
Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu
Chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống TCM và SXHD trên địa bàn; xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, không chủ quan khi số mắc giảm tạm thời.
Huy động các ban, ngành, đoàn thể, tổ dân phố, thôn, trường học, cơ sở kinh doanh, chủ công trình và người dân tham gia phòng, chống dịch.
Đối với TCM, tập trung kiểm tra vệ sinh tại trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ gia đình và hộ có trẻ dưới 5 tuổi; chỉ đạo thực hiện vệ sinh tay, vệ sinh đồ chơi, dụng cụ và bề mặt tiếp xúc; phát hiện và thông báo ngay ca bệnh.
Đối với SXHD, tổ chức các chiến dịch diệt lăng quăng/bọ gậy theo địa bàn nguy cơ; giao rõ người, rõ địa bàn, rõ thời gian và rõ kết quả; kiểm tra thực tế, xử lý các điểm nguy cơ và trường hợp không phối hợp theo quy định.
Chủ động huy động nguồn lực tại chỗ theo phương châm “4 tại chỗ”; kịp thời đề nghị ngành y tế hỗ trợ chuyên môn, nhân lực, vật tư, hóa chất khi cần thiết.
Thái Tuyền (CDC Lâm Đồng)









Lượt bình luận
Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.